Pháp luật quy định như thế nào về quyền nhân thân của tác giả

Posted by A&S on 8-9-2021

Pháp luật về dân sự nói chung và sở hữu trí tuệ nói riêng quy định mỗi cá nhân đều có quyền tài sản và quyền nhân thân. Quyền nhân thân là quyền gắn liền với mỗi cá nhân và không thể thay đổi hoặc tách rời. Vậy trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân của tác giả có gì đặc biệt hơn quyền nhân thân nói chung trong dân sự. Để hiểu được điều đó, hãy cùng tìm hiểu rõ hơn trong bài viết này.

Quyền nhân thân trong quyền tác giả

Theo Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ 2005 thì quyền nhân thân được quy định:

“Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

  1. Đặt tên cho tác phẩm.
  2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng.
  3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm.
  4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả”

Quyền nhân thân là quyền chỉ thuộc về cá nhân tác giả, kể cả khi tác giả đối tượng sở hữu công nghiệp chết cũng không được chuyển giao cho bất kỳ ai và dưới bất kỳ hình thức nào. Quyền nhân thân của tác giả được pháp luật thừa nhận là quyền nhân danh. Họ và tên tác giả phải được thể đầy đủ, rõ ràng, chính xác, chính xác tên tác giả trong các trường hợp sau đây: (i) Ghi tên tác giả vào Sổ đăng ký quốc gia về các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ; trong trường hợp công nghiệp đối tượng tài sản Ghi tên tác giả vào bằng sáng chế hoặc giấy chứng nhận đăng ký; (ii) Được công bố là tác giả trong các tài liệu công khai liên quan đến bài báo sở hữu công nghiệp.

 Phân loại tác giả của đối tượng sở hữu công nghiệp

Có hai loại tác giả của đối tượng sở hữu công nghiệp: tác giả đồng thời là chủ sở hữu văn bằng được bảo hộ (ví dụ, tác giả tạo ra đối tượng bằng chính công sức, của cải, vật chất phương tiện kỹ thuật của mình) và tác giả nhưng không đồng thời là chủ sở hữu văn bằng bảo hộ (ví dụ, tác giả sáng tạo ra các tác phẩm này theo hợp đồng lao động, hợp đồng thuê nghiên cứu với chủ sở hữu hoặc tác giả đã chuyển quyền sở hữu cho bên khác thông qua hình thức chuyển nhượng đã được thỏa thuận và ký kết).

Nếu tác giả vẫn cũng là chủ sở hữu văn bằng bảo hộ thì việc ghi họ tên cũng rất quan trọng trong các trường hợp trên, nhưng nếu tác giả không phải là chủ văn bằng được bảo hộ thì việc ghi rõ họ tên tác giả càng quan trọng. Một cá nhân đã bỏ ra nhiều công nghiên cứu, tìm tòi, thậm chí có người đã phải trả giá, đánh đổi rất nhiều trong quá trình tạo ra các đối tượng sở hữu công nghiệp này nhưng nếu khi chúng được công bố rộng rãi, được nhiều người biết đến và gây ảnh hưởng, uy tín lớn đến mọi người mà lại không được công nhận. Điều này sẽ ảnh hưởng đến danh dự, tinh thần của người sáng tạo và không có động lực để tiếp tục tạo ra các tác phẩm sở hữu công nghiệp mới. Nếu những thành tựu này tiếp tục không được công nhận trong việc nghiên cứu khoa học của họ thì đó sẽ là một tổn thất to lớn cho xã hội.

Vì vậy, ngay cả khi đối tượng sở hữu công nghiệp do người sáng tạo chuyển giao quyền sở hữu cho người khác thì việc khắc ghi tên mình vào tên tác giả của đối tượng đó phải được pháp luật thừa nhận và bảo hộ.

Quyền tài sản trong quyền tác giả

Quyền tài sản là quyền được hưởng lợi ích vật chất nhất định như thù lao, nhuận bút, khoản lợi, hoặc chi phí phát sinh từ tác phẩm của tác giả. Quyền tài sản của tác giả đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật thừa nhận là quyền nhận thù lao của chủ sở hữu theo thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật. Bản chất của tiền thù lao là để trả công cho công việc sáng tạo của tác giả và việc lao động trí tuệ của họ, được thực hiện theo hợp đồng lao động nghiên cứu hoặc hợp đồng lao động; tiền thù lao cũng được sử dụng để trả chi phí vật chất của tác giả trong quá trình nghiên cứu, sáng tạo. Chi phí trong quá trình này chẳng hạn như tiền mua vật tư, thiết bị, máy móc, phương tiện, tiền mua thiết bị thí nghiệm … trong thời gian nghiên cứu. Đối tượng tài sản sở hữu trí tuệ là quyền nhân thân của tác giả, sau đó chuyển tác giả quyền sở hữu đối tượng cho người khác.

Mức thù lao, lợi nhuận mà tác giả nhận được chủ yếu dựa trên thỏa thuận giữa tác giả và chủ sở hữu. Nói cách khác, pháp luật tôn trọng ý chí, sự thỏa thuận và mục đích của các bên trong giao lưu dân sự. Tầm quan trọng của đối tượng sở hữu công nghiệp đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ sở hữu, thời gian nghiên cứu sáng tạo, thông tin rõ ràng về đối tượng và kinh phí sử dụng để nghiên cứu phát triển đối tượng sở hữu công nghiệp, tất cả quyết định sự thỏa thuận giữa các bên về mức thù lao và các đối tượng quan trọng khác mà được tác giả nhận được.

Trường hợp chủ sở hữu công nghiệp và chủ sở quyền tác giả không thể đi đến sự thống nhất mức thù lao thì mức thù lao được xác định theo quy định của pháp luật về Sở hữu trí tuệ. Do đó, tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp được trả thù lao theo mức và thời hạn sau:

Theo khoản 2 Điều 135 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định về mức thù lao như sau:

“Mức thù lao tối thiểu mà chủ sở hữu phải trả cho tác giả được quy định như sau:

  1. a) 10% số tiền làm lợi mà chủ sở hữu thu được do sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
  2. b) 15% tổng số tiền mà chủ sở hữu nhận được trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí”

Cũng tại khoản 3 Điều 18 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp quy định về thời hạn trả thù lao như sau:

“Nếu giữa chủ sở hữu và tác giả không có thỏa thuận khác, việc thanh toán tiền thù lao phải được thực hiện không muộn hơn ba mươi ngày, kể từ ngày chủ sở hữu nhận được tiền thanh toán do chuyển giao quyền sử dụng hoặc kể từ ngày chủ sở hữu thu được lợi sau mỗi đợt sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí; nếu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được sử dụng liên tục thì mỗi đợt thanh toán không được quá sáu tháng, kể từ ngày kết thúc đợt thanh toán trước”

Trong trường hợp quyền nhân thân (quyền đứng tên, sang tên, công bố tác phẩm) của chủ sở hữu công nghiệp thuộc về tác giả sở hữu công nghiệp mà không thể chuyển giao cho bất cứ ai thì quyền tài sản (quyền được hưởng thù lao, lợi nhuận) ngược lại. Tác giả có thể chuyển giao quyền tài sản cho các chủ thể khác và được hưởng lợi ích vật chất khi thực hiện sự chuyển giao này sau khi thỏa thuận, hoặc theo quy định của pháp luật. Sau khi tác giả qua đời, tài sản thừa kế mà tác giả để lại hoàn toàn được chuyển giao cho bất kỳ ai dưới hình thức bán, tặng cho… hoặc thậm chí chuyển nhượng cho người khác. Có thể nói, quy định này của pháp luật quả thực sẽ khuyến khích các chủ thể tích cực nghiên cứu và đổi mới, vì quyền lợi của họ đã được bảo đảm một cách thỏa đáng.

Ngoài hai quyền cơ bản trên (quyền nhân thân và quyền tài sản), tác giả của đối tượng sở hữu công nghiệp còn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp bị nhầm lẫn, trùng lặp ăn bị đạo nhái ý tưởng của tác giả.

Lợi ích của việc bảo hộ quyền tác giả

Quyền tác giả, nhất là quyền nhân thân của tác giả đã được rõ quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ cũng như các văn bản pháp luật khác liên quan. Đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và sự phát triển của quyền sở hữu nói riêng, thì đây thực sự mang lại lợi ích to lớn cho đất nước.

Thứ nhất, việc bảo hộ quyền tác giả, người đã trực tiếp lao động, sáng tạo, đầu tư trí óc và tất cả những nguồn lực khác sẽ ngăn chặn hành vi đạo nhái, làm giả, hoặc bất cứ những hành vi phạm nào khác. Những sản phẩm đạo nhái, làm giả, được sử dụng trái phép mà chưa được cấp phép và vì mục đích thương mại, tư lợi sẽ gây thiệt hại lớn đến tác giả, người có quyền đối với tài sản trí tuệ này. Việc sử dụng trái phép cũng có thể gây phương hại đến sự vẹn toàn của tác phẩm, làm giảm đi uy tín, danh dự của người tác giả đã tạo ra sản phẩm đó.

Thứ hai, việc bảo hộ quyền tác giả cũng khuyến khích người dân lao động, tìm hiểu, nghiên cứu, đầu tư sáng tạo để tạo ra những sản phẩm mang hình ảnh, thương hiệu, bản quyền của mình, phục vụ cho xã hội, đất nước. Nếu không có pháp luật bảo hộ quyền tác, rất có thể những tác phẩm hữu ích, đặc biệt của người làm ra có thể bị đánh cắp, trục lợi. Do đó việc bảo hộ quyền tác giả sẽ tạo động lực cho tác giả mà không sợ bị mất bí mật công nghệ hay những gì tinh túy trong tác phẩm của mình.

 Trong một xã hội mà sự toàn cầu hóa, hợp tác hóa hiện nay thì việc bảo hộ quyền tác giả trên phạm vi toàn cầu là rất cần thiết. Trên thực tế, một số sản phẩm trí tuệ độc đáo nếu như được bảo hộ độc quyền, thì có thể được đẩy giá lên rất cao. Ví dụ như giá của một thiết bố bố trí, hoặc phần mềm máy tính, phần mềm di động có thể lên tới hàng trăm, hàng ngàn đô la, thậm chí con số còn lớn hơn rất nhiều

 Kết luận

Sở hữu trí tuệ là lĩnh vực khó quản lý, phức tạp, đòi hỏi nhà làm luật phải đưa ra những quy định chính xác, cụ thể và chặt chẽ để điều chỉnh những quan hệ pháp luật này. Đồng thời, những chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật sở hữu trí tuệ cần tôn trọng quyền của nhau, thiện chí trong hợp tác và không gây phương hại đến tác phẩm của các bên.

Liên hệ với bảo hộ thương hiệu để được tư vấn soạn thảo hồ sơ

Liên hệ

  • Đỗ Bá Thích
  • (+84)972817669
  • (+84)972817669

Các bài viết liên quan
Quyền liên quan đến quyền tác giả theo luật sở hữu trí tuệ

Quyền liên quan đến quyền tác giả theo luật sở hữu trí tuệ

ContentsQuyền nhân thân trong quyền tác giả Phân loại tác giả của đối tượng sở hữu công nghiệpQuyền tài sản trong quyền tác giảLợi ích của việc bảo hộ quyền tác giả Kết luận Hiện nay, âm nhạc đang phát triển mạnh […]

Chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan bao gồm những ai?

Chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan bao gồm những ai?

ContentsQuyền nhân thân trong quyền tác giả Phân loại tác giả của đối tượng sở hữu công nghiệpQuyền tài sản trong quyền tác giảLợi ích của việc bảo hộ quyền tác giả Kết luận Chủ sở hữu quyền tác giả và quyền […]

Sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép có cần trả tiền không?

Sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép có cần trả tiền không?

ContentsQuyền nhân thân trong quyền tác giả Phân loại tác giả của đối tượng sở hữu công nghiệpQuyền tài sản trong quyền tác giảLợi ích của việc bảo hộ quyền tác giả Kết luận Các tác phẩm đã công bố là một […]

Hiệp định CPTPP và quyền liên quan

Hiệp định CPTPP và quyền liên quan

ContentsQuyền nhân thân trong quyền tác giả Phân loại tác giả của đối tượng sở hữu công nghiệpQuyền tài sản trong quyền tác giảLợi ích của việc bảo hộ quyền tác giả Kết luận Hiệp định CPTPP còn gọi là hiệp định […]

Tổ chức đại diện, tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan

Tổ chức đại diện, tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan

ContentsQuyền nhân thân trong quyền tác giả Phân loại tác giả của đối tượng sở hữu công nghiệpQuyền tài sản trong quyền tác giảLợi ích của việc bảo hộ quyền tác giả Kết luận Khi có nhu cầu bảo vệ quyền tác […]

Facebook của chúng tôi